Countries come with pledges of carbon cuts, but gaps remain

By: Vu Ha on December 9th, 2009

No comments

COPENHAGEN–From America to Asia to Africa, government delegates have arrived here in the Danish capital with promises to work hard together to prevent irreversible and catastrophic climate change. Many have also come with national targets to cut greenhouse gases, but big gaps remain between what is being offered and what many are asking for.

An analysis of the bargaining over pollution cuts follows below in Vietnamese.

Từ 7 – 18/12, tại thủ đô Copenhagen (Đan Mạch) diễn ra Hội nghị lần thứ 15 các bên tham gia Công ước khung của LHQ về biến đổi khí hậu (COP15). Quy tụ hơn 15.000 quan chức cấp cao và chuyên gia thuộc nhiều lĩnh vực trên thế giới, COP15 là hội nghị về môi trường lớn nhất từ trước đến nay và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bối cảnh thế giới đang chạy đua với thời gian để cứu Trái đất thoát khỏi những thảm họa khôn lường do BĐKH gây ra. Có thể thấy chưa bao giờ thế giới được chứng kiến một cuộc tổng động viên toàn cầu đầy quyết tâm như ở COP15 lần này khi hàng loạt chính phủ, từ châu Âu đến châu Mỹ, châu Á đến châu Phi lần lượt đưa ra những mục tiêu cam kết “vô tiền khoáng hậu” với hy vọng có thể đạt được một thỏa thuận “công bằng, tham vọng và ràng buộc” thay thế Nghị định thư Kyôtô sẽ hết hạn vào năm 2012.

Tuy nhiên, liệu các nước có đủ ý chí chính trị để vượt qua những bất đồng dai dẳng, đặt cơ sở cho sự ra đời một thỏa thuận lịch sử? Thách thức này đang đè nặng lên vai các nhà đàm phán trước một bài toán khí hậu còn nhiều ẩn số.

Những cam kết ấn tượng

Khác với tất cả các hội nghị quốc tế trước đây về BĐKH, Hội nghị Copenhagen được cả thế giới dõi theo với hy vọng sẽ được chứng kiến sự ra đời của một văn kiện mới chứa đựng quan điểm đồng thuận của tất cả các bên về hợp tác chống BĐKH. Đây được coi là một trong những cuộc họp cuối cùng của các nhà lãnh đạo thế giới trong việc thực hiện Lộ trình Bali và đặt nền móng cho giai đoạn II của Nghị định thư Kyôtô sau năm 2012 với sự tham gia của tất cả các nước, nhất là những “ống khói” lớn như Mỹ, Trung Quốc. Điều này lý giải tại sao hội nghị thu hút tới 110 nguyên thủ quốc gia tham dự, đông nhất từ trước tới nay, và cũng là hội nghị đầu tiên nhận được nhiều cam kết nhất về mục tiêu cắt giảm khí thải của các nước.

Nauy là quốc gia nổ phát súng đầu tiên trong việc cắt giảm mạnh lượng khí thải với mục tiêu giảm tới 40% khí CO2 vào năm 2020 (so với mức của năm 1990). Tuyên bố đầy tham vọng của quốc gia Bắc Âu này đã tạo thành làn sóng lan toả mạnh mẽ trong các nước xưa nay chưa sẵn sàng cho việc “hy sinh” quyền phát thải khí của mình và được thực sự hâm nóng sau khi hai quốc gia có lượng khí thải lớn nhất thế giới là Mỹ và Trung Quốc lần lượt thông báo về mục tiêu cắt giảm khí thải. Trong thông điệp khá bất ngờ, Washington tuyên bố sẽ cắt giảm 17% lượng khí gây hiệu ứng nhà kính vào năm 2020 (so với năm 2005) và chỉ sau đó vài ngày, Bắc Kinh cũng khẳng định sẽ cắt giảm 40 – 45% nồng độ khí thải trên mỗi đơn vị Tổng sản phẩm quốc dân (GDP), so với mức của năm 2005. Ngay lập tức, những nước có lượng khí thải lớn khác là Ấn Độ và Inđônêxia cũng cam kết cắt giảm 25% và 26%. Danh sách này sau đó được kéo dài thêm với tuyên bố của Braxin (giảm 80% lượng khí thải từ phá rừng và suy thoái rừng (REDD) và Nam Phi (giảm 34% khí thải trong 10 năm tới và nâng lên thành 42% vào trước năm 2050).

Những cam kết này được đánh giá là khá tích cực nếu xét trong bối cảnh Mỹ không phải là một thành viên của Nghị định thư Kyôtô, còn các nước đang phát triển mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ, Nam Phi và Braxin không có nghĩa vụ bắt buộc phải cắt giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính. Tuy nhiên, liệu những con số này có đủ mạnh để tạo ra đột phá cho COP15 khi mà giữa các nước vẫn tồn tại những khoảng cách khá lớn về trách nhiệm và kế hoạch hành động cụ thể trong việc chống lại tình trạng ấm lên toàn cầu.

Bất đồng chưa thể vượt qua

Mặc dù được hâm nóng bằng những tuyên bố tích cực và đầy ấn tượng của các nước và hàng trăm hoạt động bên lề rất sôi nổi của các tổ chức NGO, tổ chức xã hội dân sự, hội đoàn… nhưng dường như không khí giá lạnh mùa Đông ở Bắc Âu vẫn len lỏi trong các cuộc đàm phán COP15. Cũng giống trước đây, mâu thuẫn lớn nhất tại hội nghị vẫn là việc chia sẻ trách nhiệm giảm nhẹ tác động của BĐKH, đặc biệt là xác định mục tiêu cắt giảm khí thải định lượng cho các nước phát triển, thủ phạm chính gây ra tình trạng BĐKH hiện nay. Ngay tại những phiên họp đầu tiêu của hội nghị, mâu thuẫn này lại nổi lên khi các các nhóm nước G77+ Trung Quốc, nhóm các nước châu Phi, liên minh các quốc đảo nhỏ… cùng tái khẳng định lập trường thống nhất là các nước phát triển phải cắt giảm 25 – 40% khí thải vào năm 2020 so với mức của năm 1990 trước khi đạt tới mốc 85% vào năm 2050. Ngoài ra, các nước đang phát triển cũng yêu cầu các nước giàu có trách nhiệm hỗ trợ tài chính trong ứng phó với BĐKH, nước biển dâng; đẩy mạnh chuyển giao công nghệ sạch; tăng cường năng lực thích ứng với BĐKH.

Nếu xét theo những tiêu chí do các nước đang phát triển đưa ra thì hiện chỉ có Nauy và Nhật Bản thỏa mãn yêu cầu của các nước đang phát triển, còn lại tất cả các nước khác đều có mức cam kết rất thấp. EU dù tỏ ra rất tích cực trong cuộc chiến chống BĐKH nhưng cũng chỉ đưa ra mức cắt giảm 20% và có thể là 30% nếu các nước khác cũng làm như vậy. Trong trường hợp của Mỹ, con số cắt giảm 17% so với mốc của năm 2005 trên thực tế chỉ tương đương với mức giảm 7% nếu so với mốc 1990.

Trong khi đó, các nước phát triển cũng đưa ra yêu sách khi lập luận rằng những nền kinh mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ, Braxin, Inđônêxia và Nam Phi cũng phải tham gia lộ trình cắt giảm CO2 vì phần lớn lượng khí thải trong tương lai sẽ đến từ các quốc gia này. Tuy nhiên, điều này rất khó được chấp thuận vì các nước đang phát triển cho rằng họ có quyền được phát triển kinh tế, nhất là khi lượng khí thải CO2 trên mỗi đơn vị GDP ở những nước này hiện thấp hơn nhiều so với các nước phát triển. Các nước phát triển chỉ đồng ý sẽ hạn chế mức độ gia tăng khí thải CO2 và thực hiện các hành động thích ứng phù hợp với điều kiện quốc gia trên cơ sở đảm bảo phát triển bền vững và sự giúp đỡ tài chính, công nghệ, nâng cao năng lực của các nước phát triển.

Ngoài bất đồng trong việc xác định mục tiêu cắt giảm khí thải cho các nước phát triển, hội nghị cũng chưa đạt được đồng thuận trong việc phân chia trách nhiệm tài chính giúp các nước đang phát triển ứng phó với BĐKH. Mâu thuẫn này không chỉ nảy sinh giữa hai nhóm nước phát triển và đang phát triển mà còn xuất hiện ngay trong chính nội bộ các nước phát triển với nhau. Đây đang được coi là một trong những nguyên nhân chính có thể cản trở sự thành công của Hội nghị Côpenhagen.

Cụ thể như EU, mặc dù khối này đã ấn định được khoản đóng góp tài chính 100 tỷ ơrô mỗi năm trợ giúp các nước đang phát triển ứng phó với BĐKH trong giai đoạn 2013 – 2020, nhưng cho đến nay vẫn chưa có thành viên nào đặt tiền lên bàn do không thống nhất được với nhau về mức đóng góp cụ thể của từng nước. Những nước nghèo hơn trong EU, đứng đầu là Ba Lan và Hunggari, đe dọa sẽ rời hội nghị nếu EU không tính đến lập trường của họ trong quy định đóng góp hỗ trợ cho các nước đang phát triển. Theo các nước này, trách nhiệm giúp đỡ tài chính không thể được tính theo kiểu cào bằng mà phải được chia theo trình độ phát triển kinh tế của từng nước. Đó là chưa kể đến việc cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đang khiến ngay cả những thành viên tích cực nhất trong EU trì hoãn thực hiện vai trò đầu tàu của mình.

Đó là trong nội bộ EU. Còn về phía các nước đang phát triển, sau nhiều bài học kinh nghiệm rút ra từ những lần đàm phán trước, giờ đây những “nạn nhân” của tình trạng BĐKH cũng tỏ ra cứng rắn hơn trong các cuộc thương lượng về yêu cầu trợ giúp tài chính. Bốn nước đang phát triển lớn nhất thế giới là Trung Quốc, Ấn Độ, Braxin và Nam Phi tuyên bố sẽ phối hợp đưa ra yêu cầu chung tại hội nghị và tảy chay các cuộc thảo luận nếu yêu cầu bị phớt lờ. Châu lục Đen cũng tuyên bố sẽ quay lưng với hội nghị nếu nhu cầu trợ giúp tài chính, công nghệ và tăng cường năng lực thích ứng chống BĐKH không được đáp ứng.

Và dự báo triển vọng

Kéo dài tới 12 ngày và quy tụ số lượng đại biểu lớn nhất từ trước tới nay, đặc biệt khi sẽ có sự hiện diện cùng lúc của 110 nguyên thủ quốc gia, COP15 được kỳ vọng sẽ trở thành hội nghị BĐKH quan trọng nhất trong lịch sử với việc cho ra đời một thỏa thuận “công bằng, tham vọng và ràng buộc” thay thế Nghị định thư Kyôto. Tuy nhiên trên thực tế, do đây không chỉ đơn thuần là các cuộc thảo luận về chống BĐKH mà còn bao hàm các xung đột về lợi ích kinh tế, chính trị của các nước và nhóm nước nên triển vọng này sẽ rất khó trở thành hiện thực nếu như các bên không thực sự có ý chí chính trị mạnh mẽ.

Do đó, có không ít ý kiến cho rằng hội nghị lần này chỉ có thể đạt được một thỏa thuận không có tính ràng buộc làm cơ sở cho việc ra đời một văn kiện toàn diện và chi tiết hơn vào năm sau. Theo đó, quá trình đàm phán cần được tiến hành thành hai giai đoạn. Giai đoạn đầu đưa ra cam kết cơ bản và giai đoạn II thảo luận các mục tiêu cụ thể hơn. Tuy nhiên, việc chọn nội dung cho văn bản này cũng đang là vấn đề gây tranh cãi. Các nước đang phát triển muốn tiếp tục duy trì Nghị định thư Kyôtô với những cam kết mạnh mẽ hơn từ các nước phát triển và sự tham gia tự nguyện của các nước đang phát triển. Trong khi đó, EU và Mỹ lại muốn xây dựng một văn kiện hoàn toàn mới để có thể ràng buộc trách nhiệm của một số nền kinh tế mới nổi lớn, điều không có trong Nghị định thư Kyôtô.

Trong bài phát biểu khai mạc hội nghị, người đứng đầu Công ước khung của LHQ Yvo de Boer nhấn mạnh: “Hội nghị Côpenhagen chỉ có thể được coi là thành công khi những cam kết tại hội nghị được hiện thực hóa thành hành động ngay sau khi hội nghị kết thúc”. Đây cũng là quan điểm chung của hàng trăm triệu người trên thế giới đang hàng ngày chịu những ảnh hưởng nghiêm trọng của BĐKH. Bởi suy cho cùng, những cam kết sẽ chỉ là “lời nói suông” và những lời cảnh báo cũng sẽ trở nên vô dụng nếu như các nhà đàm phán không thực sự quyết tâm đưa cam kết thành hành động cụ thể./.

Vũ Hà

Inbox: Những mốc chính tới Copenhagen

1. Riô: Trong Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất tại Rio de Janeiro (Braxin) năm 1992, các nước đã thông qua Công ước khung của LHQ về BĐKH (UNFCCC) nhằm ngăn chặn tình trạng Trái đất ấm lên do phát thải khí nhà kính. 192 quốc gia đã ký thông qua và công ước chính thức có hiệu lực từ năm 1994. Công ước quy định các quốc gia cùng hành động bảo vệ khí hậu Trái đất trên tinh thần “trách nhiệmm chung nhưng có phân biệt”.

2. Kyôtô: Năm 1997, Nghị định thư Kyôtô được bổ sung vào UNFCCC. Nghị định đưa ra những mục tiêu ràng buộc về mặt pháp lý duy nhất và đầu tiên đối với các quốc gia phát triển, đồng thời đưa ra các cơ chế quản lý, báo cáo, giám sát quốc tế cho việc thực thi Nghị định. Nghị định quy định các nước phát triển phải giảm lượng phát thải trung bình 5,2% trong giai đoạn 2008 – 2012, so với năm 1990 trên cơ sở thực hiện Cơ chế buôn bán hạn ngạch khí thải các-bon và Cơ chế phát triển sạch (CDM). Hai cơ chế này cho phép các quốc gia phát triển thực hiện mục tiêu của mình bằng cách đầu tư vào giảm phát thải ở các nước đang phát triển. Nghị định thư Kyôtô được 189 nước phê duyệt và có hiệu lực từ năm 2005. Mỹ không tham gia Nghị định thư này.

3. Bali: Năm 2007, các bên tham gia UNFCCC thông qua Kế hoạch Hành động Bali, mở ra vòng đàm phán mới trong khuôn khổ của UNFCCC với mục tiêu kéo sự tham gia của Mỹ vào nhóm các quốc gia phát triển và xây dựng mục tiêu cho giai đoạn tiếp theo sau khi Nghị định thư Kyôtô hết hiệu lực vào năm 2012. Kế hoạch hành động Bali nêu rõ các nước tham gia UNFCCC phải đạt được thỏa thuận trong 5 vấn đề chính gồm: đạt được tầm nhìn chung về mục tiêu phát thải khí; giảm khí thải do phá rừng và suy thoái rừng (REDD); xây dựng kế hoạch hỗ trợ các nước dễ bị tổn thương của BĐKH; đảm bảo thực hiện bản quyền sở hữu trí tuệ và nhất trí về mức hỗ trợ tài chính, chuyển giao công nghệ cho các hoạt đông thích ứng và giảm nhẹ ở các quốc gia đang phát triển.

  • No comments yet.
    1. No trackbacks yet.